Dù trong, dù đục, ao nhà có hơn?

Nhận được email của người bạn thân làm tôi buồn mất một tuần. Nó là đứa phản đối ý định đi Mỹ của tôi mạnh nhất từ khi tôi còn ở Việt Nam.

Tôi thường than thở với nó rằng mình không thể tìm được hạnh phúc ở xã hội Việt Nam nên mới đành phải đi tìm hạnh phúc ở nơi khác, chứ có ai muốn sống xa quê hương đâu? Cái hạnh phúc mà tôi mong muốn không chỉ bao gồm hạnh phúc có một gia đình êm ấm. Hạnh phúc còn là khi ta được hành động hay phát biểu những suy nghĩ thật trong đầu chứ không phải sống giả dối, không phải nói theo “lề phải”. Hạnh phúc là được tự lựa chọn và quyết định cuộc đời mình, được sống với những gì mình đam mê chứ không phải chờ đợi xã hội đem lại cơ hội hay ban phát cho mình sự may mắn. Hạnh phúc là được mọi người xung quanh, bộ máy chính quyền và pháp luật đối xử bình đẳng, tôn trọng như một con người chứ không phải luôn luôn tìm cách đấu tranh hay nịnh bợ và hối lộ để mong có được sự tôn trọng và công bằng mà lẽ ra mình phải được hưởng.

Đứa bạn bảo đó là tại tôi không biết cách chấp nhận hoàn cảnh xã hội chứ không phải tại xã hội Việt Nam tồi tệ. Bao nhiêu người vẫn có hạnh phúc ở Việt Nam đấy thôi. Nó đã từng đi rất nhiều nước, trong đó có nước Mỹ và cho rằng xã hội Mỹ cũng chẳng ra gì, tuy phát triển nhưng vẫn đầy rẫy xấu xa. “Mày đi Mỹ chỉ vì quá cực đoan, rồi khi đến Mỹ mày cũng sẽ không thể hạnh phúc đâu”– nó kết luận.

Quả thật, tôi chưa biết cuộc sống của mình nơi đất khách quê người sẽ ra sao, và có thể tôi chưa thấy hết được những mặt xấu xa của nước Mỹ. Nhưng tôi biết một điều, những gì tệ hại đang tồn tại trong xã hội Việt Nam thì không có ở Mỹ. Bởi lẽ, sự khác nhau sâu sắc về bản chất giữa hai xã hội Việt Nam và Mỹ nhất định phải là kết quả của sự tiến hoá trong nền văn minh nhân loại chứ không thể chỉ là sự khác biệt đơn giản như người bạn tôi đánh giá.

Cách suy nghĩ của người bạn làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của vị Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong một lần trả lời phỏng vấn phóng viên báo nước ngoài. Khi được hỏi “Ngài nghĩ sao về tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam?”, vị Chủ tịch nước đáp: “Nước nào mà chẳng có tham nhũng. Anh cứ thử về nước anh xem có tham nhũng không?” Sau đó, ông ta nở một nụ cười rất đắc chí trước thái độ lúng túng của anh chàng phóng viên nọ.

Ô hô, đường đường là một vị đứng đầu đất nước “đức cao vọng trọng” mà lại phát ngôn tầm thường thế sao? Cái lý sự “cùn” của vị lãnh đạo này làm tôi vô cùng thất vọng và phẫn nộ. Lối tư duy kiểu “nhà quê” đó phải chăng là sản phẩm của nền giáo dục ấu trĩ, sự tuyên truyền giáo điều và một chiều?

Tôi thấy buồn vì cả người bạn tôi, vị Chủ tịch nước và nhiều người khác nữa trong xã hội đều suy nghĩ theo kiểu “cào bằng” như vậy. Họ bao biện rằng ai cũng xấu như tôi cả, tôi kém cỏi thì có gì phải xấu hổ đâu bởi thiên hạ cũng không hơn gì. Thiên hạ không có cái xấu này thì có cái xấu cái khác, thế thôi. Nhà tôi có đứa con ăn cắp, nhưng cũng chẳng làm sao vì con cái nhà hàng xóm còn nghiện hút mà. Họ biện minh cái xấu của mình bằng cái xấu của người khác và cứ thế, vuốt ve thói kiêu ngạo, tự ái rởm, tự phỉnh nịnh rằng ta còn tốt chán, chẳng cần phải thay đổi gì hết. Đó cũng là suy nghĩ kiểu AQ trong văn Lỗ Tấn của Trung Quốc- một câu chuyện mà tôi được đọc hồi nhỏ. Anh chàng AQ này không bao giờ tiến bộ được bởi lúc nào cũng rung đùi tự nhận mình hay, chê bai người khác, tự hài lòng với những gì mình có, hài lòng với sự hạn hẹp của chính mình. Anh ta không biết rằng những người khác không có những thói hư tật xấu như mình, lại càng không nhìn thấy cái hay, cái tốt của người khác để học tập.

Cái tư duy đó ăn sâu vào xã hội Việt Nam đến mức làm tôi ngạc nhiên, không hiểu sao bạn tôi- một trí thức học rộng biết nhiều- lại không đặt câu hỏi tại sao xã hội Việt Nam thối nát đến vậy và làm thế nào để thay đổi điều đó thay vì tự an ủi mình bằng sự xấu xa của xã hội khác.

Tôi cho rằng, bất cứ xã hội nào, dù phát triển đến đâu cũng có mặt trái của nó. Nhưng không thể lấy mặt trái của xã hội Mỹ để bảo rằng xã hội Việt Nam là tốt đẹp và ưu việt được. Nói như vậy thì chẳng khác nào mình tự bịt mắt mình, để rồi “mẹ hát con khen hay” mà không nhận thấy “ra đường khối kẻ còn giòn hơn ta”.

Tôi biết, người bạn tôi chỉ tin vào lý lẽ AQ ấy khoảng 50% thôi. Phần còn lại, giống như đại bộ phận dân chúng trong xã hội Việt Nam, bạn tôi sợ mất những gì mình đã có nhờ sự thối nát, bất công của xã hội. Tiền bạc, công việc, địa vị, nhà cửa, học vấn, bằng cấp và ngay cả sự ổn định giả tạo họ có được cũng đủ làm cho người ta sợ thay đổi. Mặc dù, có một số trí thức hiểu họ có thể đạt được những thứ còn tốt đẹp hơn như vậy bằng chính năng lực của mình trong một xã hội văn minh, tiến bộ hơn, nhưng hầu hết đều lo sợ mất mát khi xã hội thay đổi. Ai nấy đều khư khư muốn giữ cho thật chặt những gì mình có được nhờ một quá trình thích nghi dài bằng cả cuộc đời vào sự mục ruỗng của xã hội Việt Nam. Họ khư khư giữ lấy sự ổn định, cân bằng và bình an cho riêng mình và gia đình mà không muốn cuộc sống bị đảo lộn, không muốn phải làm lại mọi thứ từ đầu trong một xã hội mới khi mình đã quá quen thuộc với sự bất công trong xã hội này.

Họ còn được tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng trong nước rằng chẳng có gì hay ho khi người dân dùng quyền dân chủ để đòi hỏi thay đổi bộ máy chính quyền như Thái Lan. Mọi hoạt động xã hội sẽ bị xáo trộn, bất ổn, sẽ có bạo lực, đổ máu và loạn lạc. Mọi công ăn việc làm cùng đồng lương và bổng lộc họ đang có ngày hôm nay có thể sẽ mất trắng nếu họ không ủng hộ cho sự tồn tại của bộ máy chính quyền.

Nỗi lo sợ ấy cùng với bao nhiêu ràng buộc về mặt vật chất làm cho người dân Việt Nam chấp nhận xã hội hiện tại một cách hèn nhát mà không dám tơ tưởng đến một xã hội công bằng hơn.

Ngoài ra, hai ngành an ninh và quân sự được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi nhất trong xã hội để có thể hết lòng tận tuỵ bảo vệ chế độ. Khác với sinh viên các trường đại học khác, sinh viên hai ngành này được nhà nước cấp học bổng, nuôi ăn học và khi ra trường, họ được hưởng bậc lương cao gấp vài lần so những người làm ngành nghề khác. Họ còn được nhà nước cấp nhà, cấp đất để ở. Quân đội được ưu tiên, “bật đèn xanh” để tham gia kinh doanh rất mạnh mẽ, hăng hái. Họ được nhà nước bảo trợ, cho nắm giữ những ngành kinh doanh đặc biệt, “một vốn bốn lời” và có ưu thế hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp dân sự khác.

Với những ràng buộc và nỗi lo sợ như vậy thì người dân Việt Nam làm sao đủ dũng khí để thay đổi cái xã hội mục nát ấy nữa? Cho nên, bạn tôi có suy nghĩ đó âu cũng là điều dễ hiểu. Tôi vẫn nhớ câu nói của một người bạn khác khi tiễn chân tôi lên đường đi Mỹ: “Cái chế độ này đúng là tồi tệ thật nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn là tại sao dân Việt Nam mình lại có thể chấp nhận một chế độ không ra gì lâu đến như vậy?”

Cơn mê này liệu sẽ còn kéo dài bao lâu nữa, hỡi các văn sĩ, trí thức nước nhà?

Nước Mỹ, ngày… tháng… năm…

This entry was posted in Bình minh cho Việt Nam and tagged , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Có 2 phản hồi tại Dù trong, dù đục, ao nhà có hơn?

  1. Pingback: Dù trong, dù đục, ao nhà có hơn? « Freelecongdinh's Blog

Bình luận đã được đóng.