Nhớ rừng

Sáng nay, trong lúc ngồi ăn bánh mì, uống trà, tôi nhìn ra ngoài vườn ngắm lũ chồn và thỏ nhảy nhót, đùa giỡn nhau trong nắng. Mấy con sóc chạy đi chạy lại trên thảm cỏ xanh mướt rồi trèo lên cành cây gần cửa sổ, giương mắt nhìn tôi. Một chú chim đỏ rực ở đâu bay tới, sà xuống bậu cửa sổ, cạnh bàn làm việc của tôi, nghiêng nghiêng cái đầu bé xíu, tò mò nhìn ngó vào trong nhà. Một ả mèo hoang lông trắng ngày nào cũng nằm ườn, lười biếng phơi nắng bên gốc cây cạnh lối vào khu vườn. Mỗi chiều thấy tôi đi học về, ả mèo thường vươn vai đứng dậy, ngoái đầu nhìn bằng đôi mắt xanh lè khi tôi gọi “meo… meo…”, ngáp dài một cái rồi lững thững bỏ đi. Nơi tôi ở là thành phố nhưng cây cối chỗ nào cũng rậm rạp và tươi tốt, động vật hoang dã sống hài hoà, bình yên cùng con người.

Ở đây, bang nào cũng có vài công viên quốc gia được bảo tồn bằng ngân sách liên bang. Đó là những khu rừng với vô vàn cây cao vút, gốc cây vài người ôm không xuể, có lẽ được trồng đã vài trăm năm. Những khu rừng này được chính quyền dùng làm nơi tham quan, thu tiền của khách du lịch, và tiền đó là để bảo dưỡng, quản lý khu rừng. Không những các loài động vật hoang dã được bảo tồn, người ta còn nghiên cứu, tìm cách đem những loài động vật -như loài chim lông đuôi đỏ rất đẹp mà tôi vẫn thấy hàng ngày- từ những quốc gia khác, có môi trường thiên nhiên tương tự về Mỹ, cho chúng sống hoà bình với động vật sẵn có ở đây và làm cho hệ sinh thái thêm đa dạng, phong phú.

Trong khi ấy, Việt Nam ta bắt sạch chim én và những loài động vật hoang dã làm thịt, rồi nhập từ Trung Quốc hết ốc bươu vàng phá luá lại đến loài rùa đỏ ăn thịt rùa nhà, làm mất cân bằng sinh thái và môi trường bị phá hoại nhanh chóng. Một bài báo* trên Internet nói rằng ở Việt Nam giờ đây, chẳng còn rừng để cho lâm tặc phá nữa. Thế mà mọi sự thiệt hại, tàn phá thiên nhiên từ trước tới giờ người ta đều đổ tại chiến tranh cả. Anh bạn ở Lào Cai bùi ngùi kể cho tôi nghe, khi anh còn nhỏ, vào những năm đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, mọi kỷ niệm tuổi thơ của anh đều gắn với rừng. Nhà anh nằm ngay tại bìa rừng. Rừng ở khắp nơi, ở hai bên đường và bao phủ những ngọn núi, quả đồi. Bây giờ, nhà anh vẫn ở đó mà có đi xe máy mấy ngày đường cũng chẳng còn thấy rừng đâu nữa.

Suốt chiều dài đất nước, những cánh rừng bạt ngàn trước đây, giờ chỉ còn trơ trụi. Một số chủ công ty kinh doanh gỗ kể với tôi, gỗ khai thác từ rừng Việt Nam được lén chở sang Lào, rồi từ đó được đưa trở lại nhập khẩu vào nước ta một cách đàng hoàng với đầy đủ giấy tờ pháp lý. Thế là gỗ khai thác lậu được hoá phép thành gỗ nhập khẩu, nghiễm nhiên xuất hiện lưu thông trên thị trường.

Tôi nghĩ, không thể trách người dân phá rừng được. Bần cùng mới sinh đạo tặc. Họ không có công ăn việc làm, đói kém, chẳng còn cách nào hơn thì chuyện phá rừng để sinh sống là đương nhiên. Dường như người dân Việt Nam mấy chục năm nay đều phải tự xoay xở tìm kế sinh nhai vì chính quyền không những bỏ mặc, chẳng quan tâm đến họ mà còn tạo ra những bất công trong xã hội. Rất nhiều bài báo, phóng sự điều tra nói rằng lâm tặc làm giàu được là nhờ kiểm lâm. Buồn thay, các cán bộ kiểm lâm, bảo vệ rừng lại giúp họ phá rừng chuyên nghiệp, bài bản và có tổ chức hơn. Âu đó cũng là hệ quả tất yếu của một chính quyền vô trách nhiệm với dân. Kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc, Hải quan tiếp tay cho buôn lậu, Công an tiếp tay cho tệ nạn xã hội, Toà án tiếp tay cho tội phạm… Một xã hội trong đó mạnh ai nấy sống, thực dụng và hỗn loạn.

Bao nhiêu trận lũ lụt, hạn hán, lở đất ngày càng trở nên thảm khốc hơn vì rừng mất; sông hồ không bị ô nhiễm thì cũng bị khai thác cát sỏi làm xói mòn, thay đổi dòng chảy; đồi núi nham nhở vì bị đào xới, bị nổ mìn để khai thác quặng. Sự trả thù của thiên nhiên bằng thiên tai nặng nề, bằng khí hậu khắc nghiệt làm cho người dân vốn đã nghèo, lại còn bị đẩy vào một cuộc sống cùng cực hơn.

Nếu trước đây, trải qua bao cuộc đổ máu, Việt Nam là một bãi chiến trường ngổn ngang, tan hoang và đầy nước mắt thì nay đất nước chẳng khác nào một sa mạc khô cằn được Đảng gán cho cái tên mỹ miều là “đô thị hoá và hiện đại hoá”. Hỡi ôi, còn đâu màu xanh của cây cối, còn đâu những khu rừng nhiệt đới tầng tầng lớp lớp, còn đâu những đầm lầy, rừng ngập mặn Nam bộ với muôn loài thú hoang dã, còn đâu “rừng vàng, biển bạc” với đa dạng sinh học như sách giáo khoa vẫn miêu tả cho con trẻ? Thay vào đó, Việt Nam trở thành một thị trường nhập khẩu vô tội vạ hàng hóa công nghiệp, những máy móc cũ nát và công nghệ lỗi thời, độc hại thải ra từ nước khác để tự nguyện biến mình thành một bãi rác công nghiệp của thế giới.

Đảng ta khoe khoang sự phát triển bằng những con số tăng trưởng vô nghĩa, bằng những công trình xây dựng đồ sộ rỗng tuyếch, bằng những khẩu hiệu dối trá. Trong khi môi trường bị huỷ hoại, tài nguyên đất nước cạn kiệt, con người bị tha hoá, bị bần cùng và lưu manh hoá thì làm sao thống kê được đây? Cho dù môi trường thiên nhiên và xã hội Việt Nam có được phục hồi thì cả trăm năm sau cũng chưa chắc chúng ta có thể lấy lại được những gì đã mất hôm nay. Đau xót thay!

Không ai khác, Đảng chính là thủ phạm tàn phá môi trường thiên nhiên, tàn phá đạo đức xã hội và lòng tin của bao thế hệ người Việt Nam, tàn phá những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông ta để lại. Bộ máy chính quyền do Đảng dựng nên đã biến đất nước thành một lãnh địa khai thác cho lòng tham vô đáy của giai cấp lãnh đạo mà không đếm xỉa đến cuộc sống của người dân. Chỉ khi nào thủ phạm đó bị loại trừ khỏi bộ máy cầm quyền thì bình minh mới có thể ló rạng trên những cánh rừng quê hương xứ sở, màu xanh mới trở lại trên đất nước đau thương và mùa xuân mới đến được với con người Việt Nam.

Nước Mỹ, ngày…tháng…năm…

*: http://dantri.com.vn/c20/s20-410845/ky-2-ve-co-ban-da-pha-xong-rung.htm

This entry was posted in Bình minh cho Việt Nam and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.